Phật giáo : Khoa học

Buddishm 1Tôi rất vui mừng hiện diện với tất cả quý vị chiều hôm nay. Tôi đã được yêu cầu nói về “Tại sao Phật Giáo?” dĩ nhiên đây là câu hỏi đáng quan tâm, một cách đặc biệt ở phương Tây, nơi mà chúng ta đã có những tôn giáo của chúng ta, vậy thì tại sao chúng ta cần Phật Giáo?

Alexander Berzin – Tuệ Uyển chuyển ngữ

Nguồn: http://khoahocnet.com

Tác giả: Alexander Berzin, Sofia, Bulgaria, 2012  – Tuệ Uyển chuyển ngữ

Tâm thức và vật chất là liên hệ hổ tương. Ta không thể quy gọn tâm thức chỉ để vừa trong bộ não hay trong một tiến trình hóa học nào đấy.

Tâm thức và vật chất là liên hệ hổ tương. Ta không thể quy gọn tâm thức chỉ để vừa trong bộ não hay trong một tiến trình hóa học nào đấy.

Tôi nghĩ thật quan trọng để hiểu rằng khi chúng ta nói về Phật Giáo, chúng ta có nhiều phương diện khác nhau đối với Phật Giáo. Đấy là những gì chúng ta có thể gọi là khoa học Phật Giáo, tâm lý học Phật Giáo, và tín ngưỡng Phật Giáo:

* Khi chúng ta nói về khoa học Phật Giáo, điều này liên hệ đến những thứ như luận lý (logic), chúng ta biết về mọi thứ như thế nào, và một cách căn bản quan điểm về thực tại – vũ trụ đã hiện hữu như thế nào, v.v…, những thứ này – sự liên hệ giữa tâm thức và vật chất. Và tất cả những thứ này đang đối diện với những chủ đề khoa học, và Phật Giáo có rất nhiều để cống hiến trong những lãnh vực này.

* Rồi thì tâm lý học Phật Giáo đối diện với tình trạng khác nhau của cảm xúc, một cách đặc biệt những cảm xúc quấy rầy những thứ làm chúng ta phải có vô số phiền toái (giận dữ, ganh tỵ, tham dục,…). Và Phật Giáo thì rất phong phú về những phương pháp trong việc đối phó với những rắc rối sinh khởi từ những cảm xúc quấy rầy như thế nào.

* Tín ngưỡng Phật Giáo, trái lại, đối diện với những khía cạnh nghi lễ, cầu nguyện; nó đối diện với những chủ đề như tái sanh. Và đấy cũng là một lãnh vực rất dồi dào.

Thế nên, khi chúng ta hỏi, “Tại sao Phật Giáo? Chúng ta cần gì đối với Phật Giáo ở phương Tây trong thế giới tạm bợ này?” thế thì tôi nghĩ rằng chúng ta cần nhìn một cách đặc biệt ở khoa học Phật Giáo và tâm lý học Phật Giáo. Nếu người ta quan tâm trong những khía cạnh tín ngưỡng Phật Giáo hơn, điều ấy rất tốt; không hề gì. Nhưng tổng quát má nói thật không dễ dàng gì nếu quý vị chuyền từ một tôn giáo này qua một tôn giáo khác, và đối với hầu hết mọi người nó tạo nên xung đột trong chính họ, sự xung đột thành tín, và một cách đặc biệt có thể tạo ra rắc rối trong thời khắc lâm chung – quý vị rất bối rối về những gì thật sự tin tưởng.

KHOA HỌC PHẬT GIÁO

Luận lý (logic)

Luận lý là một bộ phận rất quan trọng của sự tu tập Phật Giáo, và phương thức mà nó được học tập là trong hình thức của sự tranh luận. Vậy thì mục tiêu của tranh luận là gì? Mục tiêu của sự tranh luận không phải là thắng đối thủ của ta, để chứng minh đối thủ là sai. Nhưng đúng hơn, toàn bộ sự tranh luận là có một người nào đấy ủng hộ, và họ tuyên bố một vị thế nào đấy hay một sự thấu hiểu nào đấy về một điểm nào đấy của giáo huấn nhà Phật và một người khác thử thách sự thấu hiểu của họ và đang cố gắng để thử nghiệm người khác để thấy họ vững vàng như thế nào trong sự thấu hiểu của họ. Và nếu quý vị tin tưởng điều này hay điều nọ, thế thì một cách hợp lý có điều gì khác đi theo nó. Và nếu những gì đi theo nó là vô lý, không có ý nghĩa gì, thế thì có điều gì đấy sai lầm với sự thấu hiểu của quý vị. Cho nêu thật quan trọng nếu chúng ta đang thấu hiểu điều gì liên hệ đến những nhân tố căn bản về thực tại một cách sâu sắc, hãy nói, chẳng hạn như sự vô thường, thế thì chúng ta muốn – điều gọi là quán chiếu – chúng ta muốn tư duy một cách sâu sắc về nó là làm nó thành một bộ phận trong cung cách mà chúng ta nhìn thế giới.

Mọi thứ đang thay đổi từ thời khắc này đến thời khắc khác, và đấy là điều gì đó thật quan trọng để thấu hiều trong dạng thức của sự hòa bình tinh thần phổ quát của chúng ta. Thì dụ, quý vị mua một máy điện toán mới, và rồi thì nó hư hỏng, và quý vị khó chịu về nó: “Tại sao nó hư?” và v.v… Nhưng nếu quý vị nghĩ về nó một cách hợp lý, rõ ràng lý do mà nó hư là vì nó được tạo ra. Bởi vì nó được làm ra từ nhiều bộ phận khác nhau và nhiều thứ khác nhau được phối hợp lại, thế thì nó không ổn định, và dĩ nhiên ở một điểm nào đó nó sẽ bị hư.

Ngay cả nếu chúng ta gặp một người nào đấy và chúng ta phát triển một mối quan hệ thân hữu mạnh mẽ hay ngay cả là một sự hợp tác, cuối cùng nó chấm dứt. Vậy thì tại sao nó chấm dứt? Tại sao chúng ta chia tay? Chúng ta chia tay vì chúng ta gặp gở. Mỗi thời khắc sau khi chúng ta gặp gở, mọi tình huống và mọi nhân duyên đã thay đổi trong đời sống của người này và trong cuộc sống của ta. Những tình huống đã làm nên sự khởi đầu mối quan hệ thân hữu của chúng ta không còn hiện hữu nữa, và mối thân hữu lệ thuộc trên tất cả những điều kiện này, à, khi nó chấm dứt, dĩ nhiên nó sẽ chấm dứt, bởi vì những nhân duyên hổ trợ nó đã thay đổi. Cho nên sự kiện cuối cùng điều dường như đối với chúng ta làm nên sự đổ vở – một sự tranh luận, hãy nói thế – chỉ là điều kiện làm cho mối thân hữu kết thúc. Nếu không phải là điều kiện ấy, nó phải là điều gì khác. Nhưng nguyên nhân thật sự làm nó đi đến chấm dứt bởi vì nó đã khởi đầu hình thành.

Thế nên cùng sự kiện như vậy trong hình thức đời sống của chúng ta (đây là thái độ của Phật Giáo đối với sự chết): Lý do tại sao chúng ta chết? Lý do là chúng ta đã được sinh ra. Bệnh tật hay tai nạn chỉ là trạng huống của sự chết. Vì vậy nếu quý vị được sinh ra, quý vị sẽ chết. Đơn giản. Đấy là thực tại. Đây là những phương diện của khoa học Phật Giáo, và điều này là hợp lý. Do vậy trong một sự tranh luận, người khác muốn thử nghiệm sự thấu hiểu của ta về điều này và cố gắng để tìm ra những lỗ hổng trong sự tranh luận của ta:

* “À, bạn có thể nói, ‘Nếu tôi không ăn món này hay không đi đến chỗ này, tôi sẽ không chết.’”

* Trái lại người kia sẽ nói, “Vâng, nhưng sẽ có những tình huống khác. Bởi vì bạn được sanh ra, thì bạn sẽ chết.”

Thế nên, giống như thế, qua luận lý, qua tranh luận, chúng ta đi đến một sự thấu hiểu rõ ràng không có một sự do dự nào (“Nó giống như thế này, hay nó giống như thế kia chứ?”). Cách ấy, sự thấu hiểu của chúng ta trở nên thật vững vàng, rất ổn định. Và cho dù chúng ta thực hành thiền quán sau đấy hay bất cứ điều gì, nó trở nên hiệu quả hơn nhiều. Cho nên loại thảo luận, tranh luận, lý luận này rất hữu ích cho bất cứ người nào trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chúng ta rất thường nghĩ trong những cách rất mù mờ; chúng ta không nghĩ về những hậu quả của những hành động chúng ta làm hay những hậu quả của những cách chúng ta suy nghĩ. Cho nên nếu chúng ta có thể học suy nghĩ một cách hợp lý, rồi thì chúng ta càng ít có rắc rối trong đời sống của chúng ta.

Cho nên đây là khía cạnh khoa học của Phật Giáo.

Thực tại

Rồi thì trong hình thức của thực tại, một điểm mà chúng ta đã thảo luận trong hình thức của sự vô thường. Mọi thứ đang thay đổi từng thời khắc và đang tiến gần hơn đến sự chấm dứt của nó. Đây là thực tại. Nó đúng về tuổi tác của chúng ta. Chúng ta có thể nghĩ, “Ô, mỗi ngày tôi đang già hơn” và nghĩ, “À, tốt thôi,” nhưng bao nhiêu người trong chúng ta nghĩ mỗi ngày rằng: “Tôi đang tiến gần tới cái chết. Đây đúng là thực tại”? Nhưng nếu chúng ta tỉnh thức về điều ấy, rằng mỗi ngày chúng ta tiến gần tới sự chết của chúng ta và rằng sự chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào, đấy là sự thật, thế thì chúng ta sẽ không lãng phí thời gian của chúng ta. Chúng ta sẽ không để mọi thứ đến ngày mai, ngày mai, ngày mai, mà chúng ta sẽ sử dụng đời sống của chúng ta trong một cung cách đầy đủ ý nghĩa nhất mà chúng ta có thể. Và điều đầy đủ ý nghĩa nhất là cố gắng để làm lợi ích cho người khác. Thế nên đây là thực tại. Và rất hữu ích để nghĩ, “Nếu đây là ngày cuối cùng của tôi, thì những gì mà tôi muốn làm trong ngày cuối cùng ấy? Chúng ta sử dụng nó trong một cung cách đầy đủ ý nghĩa nhất như thế nào?” Bởi vì chúng ta không bao giờ biết khi nào là ngày cuối cùng của ta. Chúng ta có thể bị xe đụng khi rời phòng này. Điều này không có nghĩa là làm cho chúng ta chán nản; mà nó có nghĩa là làm cho chúng ta sử dụng thời gian của chúng ta một cách đầy đủ ý nghĩa hơn.

Một thí dụ khác trong dạng thức về thực tại. Hãy tưởng tượng ở trong một thang máy với mười người khác, và thang máy bị kẹt. Quý vị bị kẹt trong thang máy với mười người trong cả ngày. Bạn sẽ đối xử thế nào với nhau? Nếu bạn bắt đầu đánh nhau, nếu bạn bắt đầu tranh luận, và v.v…, cảnh tượng sẽ như địa ngục trong thang máy này. Cách duy nhất mà quý vị có thể tồn tại là nếu mọi người là hữu dụng, thân hữu, và tử tế với nhau, bởi vì tất bị kẹt trong thang máy với nhau; tất cả quý vị cùng ở trong một hoàn cảnh. Cho nên điều này là hợp lý. Đây là lý trí, có phải không? Thế nên khi chúng ta mở rộng điều này đến toàn thể hành tinh: Toàn bộ hành tinh giống như một thang máy khổng lồ, và chúng ta tất cả đều bị kẹt trong hành này với nhau. Nếu chúng ta tranh luận và đấu đá với nhau, nó chắc chắn chỉ trở nên khốn khổ cho mọi người. Cho nên cách duy nhất mà chúng ta có thể tồn tại bằng cách mọi người phải thân hữu và ân cần và hữu ích với nhau, bởi vì tất cả chúng ta ở đây với nhau và tất cả chúng ta ở trong cùng một hoàn cảnh. Chúng ta thở cùng một không khí; chúng ta chia sẽ cùng đại dương, nước, và đất. Tất cả chúng ta cùng ở trong một thang máy. Thế nên giống như thế. Đây là thực tại cùng với lý trí.

Cũng thế chúng ta tưởng tượng và trù tính phóng túng. Chúng ta tưởng tượng rằng chúng ta và những người khác không có bất cứ hậu quả nào. Cho nên, “Tôi có thể không có một nền học vấn tốt, tôi có thể lười biếng, và thế nào đấy điều này sẽ không có bất cứ ảnh hưởng nào trong đời sống của tôi; tôi sẽ vẫn thành công.” Hay rằng “Tôi có thể đi trễ, hay tôi có thể nói lời độc ác với bạn, và sẽ không có hậu quả nào.” Nhiều người xem người khác không thật sự có những cảm giác. Họ không bao giờ nghĩ rằng những gì họ nói ra có thể làm tổn thương người khác. Thế nên “Tôi có thể đi trễ, và không hề gì.” Tốt thôi, đây không phải là thực tại. Đây là một vọng tưởng của sự trù tính phóng túng về nguyên nhân và hậu quả. Nhưng thực tại là mọi người có cảm xúc, đúng như tôi làm, và những gì tôi nói và tôi hành động như thế nào sẽ có ảnh hưởng đến cảm xúc của quý vị, đúng như cách mà bạn đối xử với tôi sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc của tôi. Đấy là thực tại có phải không? Và càng hiểu và giữ chánh niệm về điều ấy, chúng ta càng quan tâm đến chúng ta và người khác. Chúng ta có thể quan tâm về vấn đề chúng ta ảnh hưởng đến họ như thế nào và chúng ta điều chỉnh thái độ của chúng ta cho phù hợp.

Hay tôi có thể tưởng tượng rằng tôi tồn tại một cách độc lập với mọi người khác. Đây cũng không là thực tại, có phải không? Nếu tôi nghĩ như vậy, rồi thì tôi có thể nghĩ, “tôi nên luôn luôn lo cho tôi. Tôi là quan trọng nhất. Thế nên tôi nên luôn luôn được phục vụ trước nhất trong nhà hàng,” và nếu chúng ta không có cách mà chúng ta muốn, chúng ta sẽ vô cùng khó chịu, rất giận dữ. Nhưng rắc rối dĩ nhiên là mọi người khác nghĩ rằng họ là người quan trọng nhất và không ai sẽ đồng ý rằng chúng ta quan trọng nhất. Cho nên đây là vọng tưởng của chúng ta. Đây là sự suy nghĩ phóng túng của chúng ta. Đây không phải là thực tại. Không ai là trung tâm của vũ trụ. Không ai là quan trọng nhất. Tất cả chúng ta bình đẳng trong ý nghĩa rằng mọi người muốn được yêu thích, không ai thích bị ghét bỏ. Mọi người trong nhà hàng đang chờ đợi được phục vụ muốn có thức ăn của họ, không chỉ riêng ai. Mọi người chờ đợi trong văn phòng bác sĩ muốn đến lượt họ, không chỉ riêng ai. Thế nên tất cả là bình đẳng. Xét cùng đây là thực tại.

Khoa học Phật Giáo và khoa học Phương Tây

Đây là phần khoa học Phật Giáo, để thấu hiểu thực tại và để điều chỉnh thái độ của chúng cho phù hợp. Dĩ nhiên có những khía cạnh của giáo lý về thực tại. Và thực hấp dẫn về vấn đề khoa học Âu Mỹ đang bắt đầu tìm thấy nhiều vấn đề từ khoa học Phật Giáo là đúng đắn – những cung cách khác nhau về nhìn vào sự vật những điều mà chúng không được quan tâm trước đây.

Thí dụ, chúng ta có trong khoa học Âu Mỹ về luật bảo toàn năng lượng: vật chất và năng lượng có thể hoặc không được tạo ra hoặc không bị mất đi (mọi vật không tự sanh ra hoặc mất đi, mà nó chỉ chuyển biến từ vật này qua vật khác), chỉ là chuyển hóa. Nếu chúng ta nghĩ trong hình thức ấy, những gì theo luận lý ấy là không có bắt đầu và không có chấm dứt. Cho nên khi nghĩ về dạng thức Big Bang (sự nổ lớn), thế thì chúng ta có thể nghĩ về sự Big Bang không đến từ đâu – nó bắt đầu từ không vật gì – nhưng theo quan điểm của Phật Giáo là có điều gì đấy trước khi Big Bang. Phật Giáo không phản đối gì đối với Big Bang như sự khởi đầu của vũ trụ đặc thù này, nhưng đã từng có vô số vũ trụ trước đây và sẽ có vô số vũ trụ sau này. Và khoa học Âu Mỹ cũng đang từ từ bắt đầu suy nghĩ trong những dạng thức này. Và cũng hợp lý từ quan điềm của khoa học Âu Mỹ. Cho nên ở đây một lần nữa chúng ta đi đến luận lý hợp lý. Nếu chúng ta tin tưởng rằng vật chất vầ năng lượng có thể không được tạo ra cũng không bị mất đi mà chỉ là chuyển hóa, thế thì hoàn toàn mâu thuẩn với lý luận được thừa nhận, “Nhưng có một sự bắt đầu trong Big Bang.” Cho nên đây là một thí dụ về áp dụng luận lý Phật Giáo và sự tranh luận Phật Giáo để đặt vào những vị trí ta có trong khoa học Âu Mỹ.

Một trong những sự thừa nhận chính trong khoa học Phật Giáo là sự liên hệ giữa tâm thức và vật chất. Tâm thức và vật chất là liên hệ hổ tương. Ta không thể quy gọn tâm thức chỉ để vừa trong bộ não hay trong một tiến trình hóa học nào đấy. Quý vị thấy, rắc rối là khi quý vị sử dụng từ ngữ ‘tâm thứ’ thì quý vị có khuynh hướng nghĩ về nó như hiện hữu một loại vật thể nào đấy, nhưng nó không là khái niệm của Phật Giáo. Khái niệm Phật Giáo đang nói về hoạt động tinh thần. Và hoạt động tinh thần – là thứ có nghĩa là biết về sự vật – chúng ta có thể diễn tả nó bằng một tiến trình hóa học hay điện từ nào đó trong não bộ, nhưng chúng ta cũng có thể diễn tả nó từ quan điểm kinh nghiệm, và chính quan điểm kinh nghiệm này mà chúng ta đề cập đến khi chúng ta nói về tâm thức.

Và những nhà y học cũng đang khám phá ra rằng nó đúng về những gì Phật Giáo nói, đấy là thể trạng tâm thức của chúng ta, phẩm chất đời sống kinh nghiệm của chúng ta, sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe thân thể của chúng ta. Cho nên nếu chúng ta có hòa bình của tâm thức, sự tĩnh lặng nội tại… Đó có nghĩa là tự do với những lo lắng và phiền hà triền miên và suy nghĩ trong một cung cách tiêu cực bi quan. Nếu chúng ta nghĩ trong những cung cách tiêu cực này, nó sẽ làm tổn hại thân thể của chúng ta. Trái lại, nếu chúng ta suy nghĩ lạc quan, ân cần về người khác, một cách thân hữu, tĩnh lặng – điều này làm hệ thống miễn nhiễm mạnh mẽ lên, và nó đưa đến sức khỏe tốt đẹp hơn. Cho nên y khoa, trong nhiều trung tâm khác nhau khắp thế giới, đang thực hiện những nghiên cứu về điều này, và họ khám phá ra những gì Phật Giáo nói là đúng, rằng thể trạng tâm thức chúng ta ảnh hưởng đến thân thể, nó cũng ảnh hưởng đến vật chất. Và chúng ta có nhiều chương trình ở Âu Mỹ hiện đang sử đang sử dụng những gì được biết như thiền “chánh niệm” cho việc khống chế đau đớn để giúp con người đối phó với căng thẳng, đau đớn, và những tình trạng khó khăn. Điều này đang được lưu lại trên việc tập trung vào hơi thở, giúp chúng ta tĩnh lặng. Nó nối kết chúng ta với trái đất, trong một ý nghĩa, với một yếu tố vật chất, vì thế chúng ta sẽ không khó chịu về tư tưởng , “Tôi, tôi, tôi và nỗi đau và nỗii lo lắng của tôi” và Tôi quá khó chịu”. Cho nên ta lắng dịu xuống và vô cùng hữu ích cho việc đối phó với sự đau đớn. Thế nên chắc chắn chúng ta không theo Đạo Phật nhằm để lợi lạc từ những phương pháp như vậy.

Do vậy, đây là khoa học Phật Giáo.

Kỳ sau : Phật giáo : Tâm lý học

.

Advertisements
This entry was posted in Lướt web and tagged . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s