Tâm lý học Phật Giáo

buddhism 3Phật Giáo không nói về việc từ bỏ mọi cảm xúc của chúng ta. Có những thứ như từ ái, niềm mong ước cho người khác được hạnh phúc và có những nguyên nhân của hạnh phúc bất chấp những gì họ làm, bất chấp vấn đề họ đối xử với ta hay với người thân ta như thế nào.

Alexander Berzin – Tuệ Uyển chuyển ngữ

Nguồn: http://khoahocnet.com

Những cảm xúc phiền não quấy rầy sự hòa bình tâm hồn của chúng ta.

Những cảm xúc phiền não quấy rầy sự hòa bình tâm hồn của chúng ta.

Bây giờ, tâm lý học Phật Giáo đối diện với vấn đề chúng ta biết sự vật như thế nào, vì thế nói cách khác khoa học nhận thức (sự khác nhau giữa tâm lý học và khoa học không quá tuyệt đối). Do vậy chúng ta có sự nghiên cứu về những cung cách hiểu biết – chúng ta biết sự vật như thế nào? – và chúng ta cũng có vấn đề chúng ta đối phó với những rắc rối cảm xúc như thế nào. Đây là hai lãnh vực của tâm lý học Phật Giáo.

NHỮNG CUNG CÁCH HIỂU BIẾT SỰ VẬT

Điều rất quan trọng là có thể nhận ra sự khác biệt giữa những cung cách thấu hiểu có căn cứ hợp lý và những cung cách thấu hiểu không có căn cứ hợp lý hay hiểu biết sự vật. Phật Giáo có nhiều cách nói về điều này. Một cung cách thấu hiểu có căn cứ hợp lý về điều gì đấy được định nghĩa như một cung cách hiểu biết cả chính xác và dứt khoát. Chính xác có nghĩa nó là đúng đắn – nó tương ứng với thực tại; nó có thể là có giá trị đối với người khác. Và dứt khoát có nghĩa là chúng ta chắc chắn; chúng ta xác định. Nó không là một thể trạng của tâm thức: “À, có thể nó giống như thế này, hay nó có thể là như thế kia, nhưng tôi không thật sự biết.”

Vậy thì đâu là cung cách hiểu biết sự vật có căn cứ hợp lý? Chúng ta có thể có những gì được biết như nhận thức trần trụi. Đây là sự thấy, sự nghe, sự ngửi, sự nếm, và cảm nhận về một cảm giác nào đó (và chúng ta cũng có những thứ này trong giấc mơ, và thế thì nó là tinh thần). Cho nên khi chúng ta thấy người nào đấy, điều này cần chắc chắn. Nó không luôn chắc chắn: “Tôi nghĩ tôi thấy điều gì đấy ở đó, nhưng tôi không hoàn toàn chắc chắn.” “Tôi ngĩ tôi đã thấy bạn ở trong đám đông, nhưng tôi không hoàn toàn chắc chắn. Tôi nghĩ tôi thấy bạn, nhưng thật sự đó là người khác.” Tôi nghĩ bạn nói điều này, nhưng có lẽ tôi đã sai và tôi đã nghe khác hơn.” Điều đó không có giá trị, có phải không? Điều này không chính xác và dứt khoát.

Và có thể có nhiều nguyên nhân cho sự bóp méo này. Giống như tôi lấy mắt kính ra và tôi chỉ thấy lờ mờ trước mắt tôi. Nhưng nếu bạn không tồn tại như sự lờ mờ, phải thế chứ? Có điều đó sai lầm với đôi mắt của tôi, và đấy là tại sao nó nhìn méo mó. Nếu tôi hỏi người nào khác, “Bạn có thấy một hình ảnh lờ mờ ở đó không? Họ sẽ nói không, vì thế tôi biết rằng đây là sự sai lầm của tôi.

Cho nên chúng ta có nhận thức trần trụi, và ở đây chúng ta nói về nhận thức chính xác và dứt khoát.

Và cũng thế giá trị là sự thấu hiểu suy luận. Nó phải là một thứ có giá trị, có căn cứ, không phải là một thứ không đúng. Suy luận. Lý trí. “Nơi nào có khói thì nơi đó có lửa” là một thí dụ cổ điển. Quý vị thấy khói bay ra từ một ống khói trên một ngọn núi xa. Cho nên chúng ta có một nhận thức có giá trị, có căn cứ – chúng ta thấy khói – và chúng ta có thể kết luận về một ngọn lửa (chúng ta không thật sự thấy lửa). Nói nào có khói, nơi ấy phải có một ngọn lửa. Cho nên đấy là có căn cứ.

Nhưng có điều gì đó mà quý vị ngay cả không thể biết bằng luận lý, giống như tên của một người sống trong căn nhà ấy, và vì thế quý vị cần một nguồn cội có căn cứ về tin tức. Đó cũng là một loại suy luận – rằng con người là là một nguồn thông tin có giá trị, cho nên những gì họ nói là đúng. Thí dụ tốt nhất cho điều ấy là: “Khi nào là sinh nhật của tôi?” Không có cách nào chúng ta có thể tự biết ngày sinh của chúng ta. Cách duy nhất mà chúng ta có thể biết về ngày sinh của chúng ta là qua việc hỏi mẹ chúng ta hay thấy trong giấy khai sinh, vì thế nó là một nguồn thông tin có giá trị, có căn cứ.

Có nhiều hình thức suy luận. Có sự suy luận căn cứ trên những quy ước được biết rõ: Bạn nghe một âm thanh. Bạn biết rằng nó là một chữ thế nào? Và bạn biết ý nghĩa nó thế nào? Đấy hoàn toàn là một tiến trình kỳ diệu nếu bạn nghĩ về nó. Chúng ta chỉ nghe âm thanh, một cách căn bản, nhưng bởi vì chúng ta đã học hỏi những quy ước nào đó, chúng ta suy luận khi chúng ta nghe âm thanh này rằng nó là một âm thanh của một chữ. Và chúng ta suy luận rằng nó có một ý nghĩa nào đó. Dĩ nhiên chúng ta đôi khi phải kiểm soát bởi vì chúng ta nghĩ rằng một người có nghĩa gì đó bởi những gì họ nói khi họ thật sự có nghĩa gì đó hoàn toàn khác biệt.

Vậy thì đây là những gì chúng ta nói đến khi chúng ta nói về khía cạnh tâm lý học Phật Giáo, khoa học nhận thức. Chúng ta phải kiểm soát. “Tôi suy luận từ những gì bạn nói đấy là những gì bạn muốn nói, nhưng điều ấy đúng hay không?” Rất thường chúng ta hiểu sai những những gì người khác muốn nói, có phải thế không? Người nào đó nói “Tôi yêu bạn,” và chúng ta có thể nghĩ rằng điều ấy có nghĩa là họ hấp dẫn tình dục với chúng ta, trái lại hoàn toàn không phải như thế trong ý nghĩa của họ. Rất nhiều sự hiểu biết sai lạc có thể xảy ra do bởi những sự suy luận không đúng đắn.

Cho nên nếu nó là một sự suy luận có căn cứ, thì nó chính xác và dứt khoát.

Sự giả định là nó không giá trị. “Tôi đoán chừng là bạn muốn nói thế, nhưng tôi không chắc.” Sự giả định một cách căn bản là một sự phỏng đoán. “Tôi phỏng đoán đây là những gì bạn muốn nói.” Nó có thể là đúng, có thể là sai, nhựng không dứt khoát. “Tôi nghĩ rằng đây là những gì bạn nói.” Đó là sự giả định. Nhưng chúng ta không chắc.

Rồi thì có sự không dứt khoát chập chờn: “Bạn muốn nói thế này chứ, hay bạn muốn nói thế kia chứ?” Chúng ta tiến thoái.

Và rồi thì có một nhận thức bóp méo, vọng tưởng, chỗ mà chúng ta nghĩ điều gì đấy hoàn toàn sai lạc. Đây hoàn toàn không là những gì người kia muốn nói.

Vì vậy đây vấn đề nhận thức hoạt động như thế nào, và Phật Giáo nói đến một sự đối diện phong phú về điều này. Nó rất hữu ích đối với chúng ta để thấu hiểu, từ bất cứ loại quá khứ nào, “Có phải cung cách hiểu biết của tôi về điều đúng đắn này hay sai lầm này không?” Nếu tôi vẫn không chắc, rồi thì tôi cần nhận ra điều ấy và cố gắng để sửa sai nó, cố gắng để cuối cùng tìm ra thực tại là gì. Cho nên điều này thật hữu ích với bất cứ người nào. Bạn không cần tín ngưỡng và nghi thức Phật Giáo cho điều này.

CẢM XÚC PHIỀN NÃO

Rồi thì một chủ để chính khác của tâm lý học Phật Giáo phải làm với những cảm xúc. Chúng ta có cả những cảm xúc tích cực và tiêu cực. Những cảm xúc tiêu cực là những cảm xúc phiền não; chúng quấy rầy sự hòa bình tâm hồn của chúng ta. Chúng ta nói về những thứ như giận dữ. Sự định nghĩa là đây là một tình trạng của tâm thức, là thứ khi nó sinh khởi, nó làm chúng ta đánh mất sự hòa bình của tâm hồn – vì thế chúng ta trở nên hơi khó chịu, hơi lo sợ – và nó làm cho chúng ta đánh mất sự tự kiểm soát. Thế nên khi chúng ta giận dữ, năng lượng của chúng ta – chúng ta có thể cảm nhận nó, nó bị quấy rầy. Và chúng ta nói và làm những việc mà sau này chúng ta có thể hối hận. Chúng ta đúng là hành động bị thúc đẩy từ nội tâm.

Chúng ta nghe nhiều trong Phật Giáo về nghiệp báo. Và nghiệp báo là những gì được nói là khía cạnh bị thúc đẩy cưỡng bách trong thái độ của chúng ta căn cứ vào thói quen trước đấy. Cho nên khi chúng ta có sự dính mắc hay tham dục mạnh mẽ, thế thì một lần nữa chúng ta không trầm tĩnh – chúng ta khó chịu bởi vì chúng ta muốn làm một việc gì đó – và một lần nữa chúng ta không có sự tự kiểm soát, giống như với sô-cô-la, mà chúng ta chỉ ăn nó mà thôi.

Cho nên đây là những cảm xúc phiền não. Nhưng về mặt khác, có những cảm xúc tích cực. Phật Giáo không nói về việc từ bỏ mọi cảm xúc của chúng ta. Có những thứ như từ ái, niềm mong ước cho người khác được hạnh phúc và có những nguyên nhân của hạnh phúc bất chấp những gì họ làm, bất chấp vấn đề họ đối xử với ta hay với người thân ta như thế nào. Và có bi mẫn, niềm mong ước được tự do khỏi khổ đau và những nguyên nhân của khổ đau. Có nhẫn nhục. Có sự tôn trọng. Thế nên cũng có nhiều cảm xúc tích cực. Vì vậy, chúng ta cần học hỏi để có thể phân biệt giữa những gì xây dựng và những gì phá hoại trong những cảm xúc của chúng ta và trong cung cách hành động của chúng ta. Và Phật Giáo rất phong phú trong giáo huấn không chỉ trong tất cả những tình trạng cảm xúc khác nhau này mà chúng ta có thể nhận ra chúng, mà cũng giàu có trong những phương pháp để giúp chúng ta lìa bỏ những tình trạng phiền não của tâm thức.

Do thế, quý vị nhớ chúng ta đã nói về những nhận thức sai lầm, về những vọng tưởng của những gì đúng là không thật? Một trong những vọng tưởng quan trọng nhất là về vấn đề chúng ta hiện hữu như thế nào? Như tôi đã nói, trong phương cách rất giản dị, chúng ta nghĩ rằng chúng ta là người quan trọng nhất, rằng chúng ta hiện hữu thuần nhất bởi chính chúng ta và chúng ta nên luôn luôn có cách của chúng ta, và mọi người phải thích chúng ta. Những gì rất đáng quan tâm để nghĩ trong dạng thức: “Không phải tất cả mọi người thích Đức Phật, thế nên tại sao tôi phải mong đợi mọi người sẽ thích tôi?” Một lời tuyên bố rất hữu ích để nhớ đến.

Do thế, thế nào đi nữa, chúng ta nghĩ trong dạng thức: “Tôi là thứ thuần nhất này ngồi trong đầu tôi, tác giả của giọng nói diễn ra trong đầu tôi, lo lắng về vấn đề ‘Tôi nên làm gì? Người ta nghĩ về tôi ra sao?‘” Giống như có một cái ‘tôi’ nho nhỏ ngồi trong đầu thấy tất cả mọi thông tin xuất hiện trên màn ảnh và cái loa lớn từ những cảm giác và bấm nút làm cho thân thể tôi chuyển động hay lời nói hoạt động: “Bây giờ hãy làm việc này. Bây giờ hãy nói điều ấy.” Thế nên đây là một nhận thức phiền não về chính chúng ta. Làm sao chúng ta biết nó là phiền não? Bởi vì tất cả chúng ta cảm thấy không an toàn. Nghĩ ngợi như thế, có sự không an toàn và lo lắng này về chính tôi. “Người ta nghĩ về tôi thế nào?” v.v…, v.v…

Vậy thì điều gì xảy ra là chúng ta có những vọng tưởng này không chỉ về chính chúng ta mà rồi thì về mọi thứ chung quanh chúng ta. Chúng ta thấy nhiều đối tượng khác nhau, và chúng ta thổi phồng những phẩm chất tốt đẹp mà chúng ta. Chúng ta vọng tưởng ngay cả những phẩm chất tốt đẹp mà chúng không có. Giống như khi chúng ta yêu một người nào đấy, “Họ là người tuyệt vời nhất trên thế giới.” Chúng ta hoàn toàn lãng quên những khuyết điểm mà họ có thể có. “Họ là đẹp nhất, người đáng ao ước nhất mà tôi đã từng thấy.” Và rồi thì nếu chúng ta không có họ, lòng tham muốn mong đợi: “Tôi phải có người ấy như một người phối ngẫu của tôi, như một người bạn của tôi.” Và nếu chúng ta có họ như bạn của chúng ta, sự dính mắc “chúng ta không rời xa) và tham muốn (chúng ta muốn bên họ nhiều hơn và nhiều hơn).

Vậy thì đây là một tình trạng phiền não của tâm thức, có phải không? Chúng ta cần thấy thực tại: mọi người có những điểm mạnh, những điểm yếu. Chúng ta thường nghĩ, và điều này hoàn toàn không thật, rằng: “Tôi là người quan trọng nhất. Thế nên tôi là người duy nhất trong đời bạn. Bạn nên dành mọi thời gian của bạn cho tôi,” và chúng ta hoàn toàn lãng quên rằng họ cũng có những người khác trong đời họ, những thứ khác mà họ liên hệ, không chỉ chúng ta. Thế nên chúng ta giận dữ. Chúng ta cảm thấy không an toàn. Và nếu họ không gọi chúng ta, chúng ta thổi phồng những phẩm chất tiêu cực của họ, và chúng ta không muốn thấy những phẩm chất tốt đẹp trong mối quan hệ của chúng ta vỡi người này. Và chúng ta giận dữ; chúng ta muốn đưa thứ này ra khỏi chúng ta, cho nên chúng ta la lối chúng, “Tại sao bạn không gọi tôi? Tại sao bạn không đến?” Điều đó căn cứ trên việc có cái ‘tôi’ nho nhỏ, rằng tôi phải luôn luôn có lối của tôi, tôi phải là người quan trọng nhất, và điều không thực tế rằng tôi là người duy nhất trong cuộc sống của người này.

Phật Giáo đưa ra một sự phân tích rất rõ ràng về những gì khó chịu, những gì không đúng, trong cách suy nghĩ và cảm nhận này. Bởi vì, quý vị thấy, tâm thức chúng ta làm mọi thứ xuất hiện như thế, và rắc rối là chúng ta tin tưởng rằng nó tương ứng với thực tại. Cho nên chúng ta có tất cả mọi phương pháp để, trong một ý nghĩa, đánh vở quả bóng của suy nghĩ phóng túng, vọng tưởng cùa chúng ta. Nó có thể cảm nhận như dường như tôi là người duy nhất hiện hữu, bởi vì khi tôi nhắm mắt lại tôi không thấy ai khác nữa và vẫn có âm thanh trong đầu tôi. Nhưng điều này là ngờ nghệch. Đó không phải là thực tại. Điều đó không tương ứng với thực tại. Quý vị không chấm dứt tồn tại khi tôi nhắm mắt tôi lại. Thế nên đây là căn bản của tâm lý học Phật Giáo.

PHÁT TRIỂN TỪ ÁI VÀ BI MẪN

Trong dạng thức của từ ái và bi mẫn. Chúng ta có nhiều phương pháp cho việc phát triển những điều này được dạy trong Phật Giáo, và bất cứ người nào cũng có thể được lợi lạc từ chúng (xét cho cùng không cần phải tuân theo những phương diện tín ngưỡng của Đạo Phật). Từ ái và bi mẫn căn cứ trên sự bình đẳng của mọi người: mọi người muốn hạnh phúc và không ai muốn khổ đau. Mọi người muốn vui sống. Không ai muốn sầu khổ. Tất cả chúng ta giống nhau.

Tất cả chúng ta liên hệ hổ tương. Toàn bộ đời sống của tôi tùy thuộc vào sự ân cần tử tế và hoạt động của người khác. Chúng ta nghĩ đến tất cả những người khác liên hệ trong việc gieo trồng thực phẩm mà chúng ta ăn, vận chuyển nó, đem nó đến những cửa hàng. Rồi thì có những người xây dựng đường xá và những người chế tạo nên những chiếc xe vận chuyển thực phẩm. Cao su cho những chiếc bánh xe thì thế nào? Chúng đến từ nơi nào? Vậy thì cũng có nhiều người liên hệ đến công kỹ nghệ ấy. Và về xăng dầu và những con khủng long và v.v… mà thân thể của chúng phân hủy và làm nên xăng dầu này thì sao? Cho nên nếu chúng ta nghĩ như thế, thế thì chúng ta thấy rằng chúng ta hoàn toàn liên hệ hổ tương và tùy thuộc vào những thứ khác.Và điều này trở thành thậm chí biện chứng hơn trong dạng thức của kinh tế toàn cầu.

Thế nên trên căn bản của sự thấu hiểu sự bình đẳng ấy của tất cả mọi người và sự liên hệ hổ tương của chúng ta với mọi người, rồi thì chúng ta nghĩ trong dạng thức của: “Bất cứ rắc rối nào hiện diện, chúng phải được giải quyết.” Bởi vì một trong những những đạo sư vĩ đại Ấn Độ đã nói, “Vấn nạn và khổ đau không có một người chủ; khổ đau cần được xóa bỏ, không phải bởi vì nó là khổ đau của tôi hay khổ đau của bạn – nó phải đươc xóa bỏ bởi nó làm tổn thương.” Thế nên khi có một vấn nạn với môi trường, hãy nói, nó không chỉ là vấn nạn của tôi hay rắc rối của bạn; nó và vấn đề của tất cả chúng ta. Không có chủ nhân của rắc rối. Nó phải được giải quyết bởi vì nó là rắc rối, đơn giản bởi vì nó một vấn nạn và làm rắc rối đến mọi người.

Vậy thì giống như thế, chúng ta phát triển từ ái và bi mẫn trong một phương pháp mà không cần phải làm gì với tín ngưỡng, nhưng hoàn toàn căn cứ trên luận lý hợp lý và thực tế.

Alexander Berzin, Sofia, Bulgaria, 2012

.

Advertisements
This entry was posted in Lướt web and tagged . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s